Xuất khẩu lao động Đài Loan: Đơn phương chấm dứt hợp đồng xuất khẩu lao động có sao không?

Ai đi xuất khẩu lao động, đặc biệt là thị trường xklđ Đài Loan đều mong muốn có được công việc tốt với mức lương cao. Nhưng nếu như không được mong muốn: Mức lương thấp, tăng ca không nhiều, môi trường làm việc nguy hiểm ….

Thì không chỉ một mà rất nhiều anh chị em lao động có suy nghĩ muốn bỏ công việc đã ký hợp đồng và làm việc bất hợp pháp bên ngoài. Tuy nhiên, lao động chưa hiểu rõ nếu như đơn phương chấm dứt hợp đồng xuất khẩu lao động thì sẽ ra sao, và có hệ lụy gì cho tương lai của lao động hay không? 

Bài viết dưới đây xin được làm rõ vấn đề: Nếu như bạn là lao động xuất khẩu Đài Loan và đơn phương chấm dứt hợp đồng thì sẽ như thế nào. 


LIÊN HỆ 0942689586 ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ HỖ TRỢ TRỰC TIẾP NHA

THAM KHẢO NGAY ĐƠN HÀNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐÀI LOAN, LƯƠNG TỐT, BAY NHANH 2019 

 

NỘI DUNG CHÍNH 

1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng 

2. Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm các nội dung nào? 

3. Lao động xklđ Đài Loan đơn phương chấm dứt hợp đồng thì có nhận được tiền môi giới không? 

4. Hoàn trả tiền môi giới 

5. Trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng 

6. Trường hợp người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng 

…………………...

 

1. CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG 

TRƯỜNG HỢP 1: 

 Tôi là người lao động đã làm việc tại công ty A tại Đài Loan, tuy nhiên qua thời gian làm việc tôi quen biết đến công ty môi giới khác, công ty này có thể giới thiệu và giúp tôi vào được công ty B. Công ty B thì có mức lương cao hơn môi trường làm việc tốt hơn, và đặc biệt thời gian làm việc không nhiều như công ty hiện tại tôi đang làm việc. Nên tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty A và chuyển sang công ty B làm việc, vậy không biết theo luật lao động thì tôi có bị sao không? 


TRƯỜNG HỢP 2: 

Tôi đi xuất khẩu lao động theo một công ty môi giới: Trước khi đi công ty môi giới phía bên Việt Nam nói rằng ngoài mức lương cơ bản ký kết trong hợp đồng thì mức tăng ca của công ty rất tốt, môi trường làm việc trong nhà máy, điều kiện làm việc an toàn, chắc chắn rằng sức khỏe của người lao động được đảm bảo chắc chắn.


Tuy nhiên khi đến Đài Loan làm việc tôi mới thực sự vỡ mộng: Bỏ ra cả 5000 - 6000 USD nhưng sang Đài Loan tôi không hề nhận được mức lương như mong muốn, không những thế môi trường làm việc còn không có bảo hộ, ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động chúng tôi. Nên tôi muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. 


Tôi có câu hỏi rằng: Công ty môi giới không thực hiện đúng hợp đồng lao động đã ký kết với tôi có vi phạm các quy định của pháp luật hay không? Trong trường hợp tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì có phải bồi thường hay không? 


GIẢI ĐÁP THẮC MẮC 


Theo tham khảo cũng như liên hệ với các bên luật sư thì: Việc liên quan đến các quy định của pháp luật về thực hiện hợp đồng lao động trong việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài. 

Đây là một trong những vấn đề mà số đông người lao động Việt Nam khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu lao động gặp phải, không chỉ riêng lao động đi xuất khẩu Đài Loan. 


Theo quy định của luật hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật


Theo điều 4 luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài năm 2006 quy định về nội dung của việc đưa người lao động đi làm việc thế nào? 

 

2. HOẠT ĐỘNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI BAO GỒM CÁC NỘI DUNG SAU ĐÂY

 

- Ký kết các hợp đồng liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài 

- Tuyển chọn lao động 

- Dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động, tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài 

- Thực hiện hợp đồng đưa người lao động làm việc ở nước ngoài 

- Quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài 

- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài 

- Thanh lý hợp đồng giữ doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài 

- Các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân có liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài 

Như vậy, theo quy định tại khoản 5 điều này quy định quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Việc công ty môi giới không thực hiện đúng các nội dung đã được ghi trong hợp đồng đã lao động đã ký kết đã vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. 


LIÊN HỆ 0942689586 ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ HỖ TRỢ CỤ THỂ 


3. THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT KHI BẠN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THÌ BẠN CÓ NHẬN LẠI ĐƯỢC TIỀN MỖI GIỚI HAY KHÔNG? 

 


Theo khoản 4 điều thông tư liên tịch quy định cụ thể về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 

Quản lý và sử dụng tiền môi giới đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 

- Tiền môi giới phải được thể hiện trong hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp đồng riêng về tiền môi giới được ký giữa doanh nghiệp và bên môi giới 

- Tiền môi giới phải được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng được hưởng. Nếu lợi dụng quy định về tiền môi giới để thu, chi sai mục đích không đúng đối tượng, trục lợi thì người ra quyết định thu, chi phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật 

- Phần tiền môi giới mà người lao động hoàn trả (nếu có) phải được ghi rõ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Doanh nghiệp thu một lần tiền môi giới của người lao động trước khi người lao động xuất cảnh ra nước ngoài làm việc. Khi thu tiền môi giới của người lao động, doanh nghiệp phải cấp biên lai thu tiền cho người lao động. Khoản tiền môi giới mà người lao động hoàn trả không tính vào doanh thu của doanh nghiệp và doanh nghiệp không phải nộp thuế. 

- Phần tiền môi giới mà doanh nghiệp chi (nếu có) được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. 


4. HOÀN TRẢ TIỀN MÔI GIỚI 

- Trường hợp người lao động phải về nước trước thời hạn vì lý do bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh, doanh nghiệp bị phá sản) hoặc không phải do lỗi của người lao động thì doanh nghiệp có trách nhiệm yêu cầu bên môi giới hoàn trả lại cho người lao động một phần tiền môi giới người lao động đi xuất khẩu lao động, cụ thể là thị trường xklđ Đài Loan mà người lao động đã nộp theo nguyên tắc: Người lao động làm việc chưa đủ 50% thời gian theo hợp đồng thì được nhận lại 50% tiền môi giới đã nộp. 

Người lao động đã làm việc từ 50% thời gian theo hợp đồng trở lên thì không được nhận lại tiền môi giới. 

 

- Trường hợp không thể đòi được của bên môi giới thì doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả cho người lao động theo nguyên tắc trên và được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. 

 

ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP THỨ NHẤT: Đơn phương chấm dứt hợp đồng bạn phải tự tính xem trường hợp của bản thân đã làm việc theo quy định đã được 50% thời hạn của hợp đồng chưa. Nếu chưa được 50% thời hạn của hợp đồng thì bạn không được hoàn trả tiền môi giới do nguyên nhân khách quan mà bạn phải chấm dứt hợp đồng lao động. 

 

ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP THỨ HAI: Trường hợp này là do công ty môi giới không thực hiện các quy định của pháp luật về việc đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên bạn có quyền khởi kiện Công ty môi giới để yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 


5. TRƯỜNG HỢP NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐƯỢC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG 

 

- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động : 

LƯU Ý: Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. 

Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. 

 

- Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời gian, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

- Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;


LƯU Ý: CÁC LÝ DO BẤT KHẢ KHÁNG BAO GỒM: 

 

- Địch họa, dịch bệnh;

- Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động (để thực hiện nghĩa vụ quân sự; bị tạm giữ, tạm giam; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; lao động nữ mang thai hoặc trường hợp khác theo thỏa thuận).

 

Nghĩa vụ thông báo: Người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết trước:

- Với hợp đồng lao động không xác định thời hạn: ít nhất 45 ngày;

- Với hợp đồng lao động xác định thời hạn: ít nhất 30 ngày;

- Với hợp đồng mùa vụ hoặc công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng: ít nhất 03 ngày làm việc.

6. CÁC TRƯỜNG HỢP NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG KHÔNG ĐƯỢC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 

- Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục;

- Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý;

- Lao động nữ kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

7. TRỢ CẤP THÔI VIỆC 

Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Trong đó:

Thời gian làm việc = Tổng thời gian người lao động thực tế làm việc cho người sử dụng lao động – Thời gian người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp – Thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc (nếu đã có)

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Lưu ý:

Tổng thời gian người lao động thực tế làm việc bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần; nghỉ việc hưởng nguyên lương, thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Thời hạn thanh toán: trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Trong các trường hợp sau thì không quá 30 ngày:

- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

- Người sử dụng lao động hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh truyền nhiễm;

- Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế.

Đăng ký tư vấn đơn hàng lương cao

Quý khách hàng vui lòng đăng ký theo thông tin điền vào form dưới đây để Du học Việt tư vấn thêm cho bạn ngay!

Đăng ký ngay

Gửi bình luận

#
Chỉ còn 3 suất ưu đãi giảm chi phí đi xuất khẩu lao động
Đăng ký ngay
  • Days
  • Hours
  • Mins
  • Secs
  • Tổng truy cập: 840994
    Đang online : 86